Chính trị
Cập nhật: 7 : 44' : 55'' (GMT+7) - 13 / 2 / 2017
Thực hiện tinh giản biên chế
Cần kịp thời tháo gỡ những khó khăn, bất cập
Giờ làm việc của viên chức tại bộ phận một cửa của xã Tân Lợi Thạnh (Giồng Trôm). Ảnh: Đ.Chính

Tinh giản... biên chế lại tăng

Tại Bến Tre, cán bộ, công chức, viên chức (CB, CC, VC) trong khu vực công chiếm số lượng rất lớn, gần 29 ngàn người.

Từ đó, gây áp lực nặng nề đối với ngân sách nhà nước, vì nguồn ngân sách của tỉnh rất hạn hẹp, phải được Trung ương bổ sung ngân sách mà chưa thể tự cân đối, nhưng phải bố trí phục vụ chi thường xuyên (chủ yếu chi cho con người) quá lớn để duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước từ tỉnh đến cơ sở, trong khi nhu cầu chi đầu tư phát triển đang rất bức xúc để cải thiện tiềm lực kinh tế, phục vụ sự nghiệp phát triển chung của tỉnh nhà trong tương lai chưa được đảm bảo.

Xuất phát từ thực trạng đó, Chính phủ đã tổ chức triển khai thực hiện chính sách tinh giản biên chế (TGBC), với mục tiêu loại ra khỏi bộ máy những người dôi dư, không đáp ứng yêu cầu công việc, không thể tiếp tục bố trí, sắp xếp công tác khác, đồng thời thực hiện chế độ, chính sách đối với các trường hợp thực hiện TGBC, nhằm khuyến khích, động viên những người thuộc đối tượng tinh giản tự nguyện đăng ký thực hiện, nhằm góp phần tinh gọn bộ máy, chuẩn chất đội ngũ CB, CC, VC thuộc khu vực công để từng bước nâng cao chất lượng công vụ, công chức.

TGBC không phải là một chủ trương mới, mà là vấn đề đã được nhìn nhận và thực hiện từ năm 2007 theo Nghị định số 132/2007/NĐ-CP của Chính phủ. Tuy nhiên, qua tổng kết 5 năm thực hiện chính sách TGBC theo Nghị định số 132/2007/NĐ-CP thì số lượng biên chế trong bộ máy công quyền không giảm, thậm chí còn tăng so với trước đây. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tăng biên chế trong bộ máy nhà nước là do bổ sung chức năng, nhiệm vụ, thành lập mới tổ chức, chia tách đơn vị hành chính… nên số lượng biên chế phải tăng để đáp ứng yêu cầu bố trí công việc cho bộ máy mới thành lập, bố trí nhân sự thực hiện nhiệm vụ mới phát sinh. Do đó, biên chế đáng lẽ phải giảm, nhưng sau khi thực hiện tinh giản thì biên chế lại tăng. Đây là một nghịch lý không thể chấp nhận được.

Từ thực tế hoạt động của bộ máy nhà nước và những hạn chế, bất cập trong thực hiện TGBC trước đây, Chính phủ quyết tâm đổi mới thực hiện công tác TGBC thông qua ban hành và tổ chức thực hiện Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20-11-2014 của Chính phủ về chính sách TGBC để tiếp tục thực hiện mục tiêu tinh gọn bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ CB, CC, VC trong khu vực công, đảm bảo bố trí nhân sự đúng với yêu cầu của vị trí việc làm. Mặt khác, Bộ Chính trị cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề TGBC nên ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17-4-2015 về TGBC và cơ cấu lại đội ngũ CB, CC, VC. Với quyết tâm tinh gọn bộ máy, trong các văn bản của Đảng, Chính phủ quy định cụ thể tỷ lệ TGBC đến năm 2021 tối thiểu 10% biên chế của bộ, ngành, địa phương được giao năm 2015. Như vậy, TGBC được xác định là yêu cầu cấp thiết trong cải cách chế độ công vụ, công chức ở nước ta hiện nay.

Những khó khăn, bất cập

Qua tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương về TGBC , các cơ quan, đơn vị, địa phương đã phát hiện những khó khăn, bất cập và những thách thức rất lớn trong thực hiện TGBC, cụ thể như sau:

- Thứ nhất: Rào cản về tâm lý, đặc biệt là tình trạng thiếu kiên quyết, nể nang, né tránh, ngại va chạm, muốn giữ ổn định tổ chức, bộ máy và biên chế hiện tại của các cơ quan, đơn vị trong khu vực nhà nước. Thực tế cho thấy, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thật sự mạnh dạn, thẳng thắn, khách quan trong quản lý, sử dụng, đánh giá và phân loại CB, CC, VC để làm cơ sở thực hiện TGBC. Theo đánh giá chung, hầu hết các cơ quan, đơn vị, địa phương trong cả nước đều tồn tại tình trạng có một số CB, CC, VC “ngồi chơi, xơi nước”, không đảm đương được công việc theo vị trí công tác, nhưng vẫn trong biên chế, không thể tinh giản được, chủ yếu là do công tác đánh giá, phân loại cán bộ ở nước ta hiện nay vẫn là khâu yếu, không đánh giá đúng thực chất nên không có cơ sở đưa vào diện TGBC để cho thôi việc, hưởng chế độ, chính sách.

Bên cạnh đó, có một số lượng khá lớn CB, CC, VC đủ điều kiện để nghỉ hưu trước tuổi, hưởng chế độ, chính sách TGBC, nhưng do rào cản tâm lý nên không muốn nghỉ việc theo diện TGBC và tìm đủ mọi điều kiện, lý do để “thoát khỏi” diện TGBC của cơ quan. Một số trường hợp thuộc diện dôi dư, phải TGBC do sắp xếp tổ chức, bộ máy, nhưng không muốn nghỉ tinh giản nên có hiện tượng “chạy chọt” để không phải vào diện TGBC. Ngoài ra, vẫn còn tồn tại tình trạng lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương lợi dụng thực hiện chủ trương TGBC để “chèn ép”, loại ra khỏi tổ chức những cá nhân không thuộc “nhóm ủng hộ” mình trong cơ quan.

- Thứ hai: Mục tiêu TGBC là loại ra khỏi cơ quan, tổ chức, đơn vị những người không đáp ứng yêu cầu công việc. Tuy nhiên, trong thực tế thì có một số người đáp ứng yêu cầu công việc, năng lực tốt, nhưng do đảm nhiệm quá nhiều công việc, tuổi tác cũng gần đến thời gian đủ tuổi nghỉ hưu trong khi có một số người khác trong cùng cơ quan làm việc ít mà quyền lợi nhiều, từ đó tạo ra sự thiếu công bằng, gây tâm lý chán nản dẫn đến muốn được nghỉ TGBC và tìm đủ mọi điều kiện để bản thân được nghỉ hưu trước tuổi, hưởng chế độ, chính sách. Như vậy, chúng ta không loại ra khỏi bộ máy những người không đáp ứng yêu cầu công việc mà ngược lại có một số người làm việc tốt, nhưng với áp lực công việc nặng nề lại xin được nghỉ việc theo diện TGBC.

- Thứ ba: Thiếu nhân sự thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị khi thực hiện TGBC, vì theo nguyên tắc “ra 2 vào 1”, nên các cơ quan, đơn vị, địa phương không quyết liệt trong thực hiện tinh giản. Cụ thể là theo quy định, khi thực hiện tinh giản (kể cả trường hợp nghỉ hưu đúng tuổi) thì cơ quan, đơn vị sử dụng CB, CC, VC chỉ được sử dụng lại 50% số biên chế đã tinh giản và nghỉ hưu, còn 50% biên chế này phải đưa vào nguồn dự phòng. Do đó, các cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thật sự mạnh dạn thực hiện chủ trương này, vì sau khi tinh giản, số lượng biên chế còn lại ít, không đảm đương được khối lượng công việc ngày càng nhiều. Ngoài ra, quy định chỉ sử dụng 50% số lượng biên chế đã nghỉ hưu, tinh giản đã gây ra nhiều khó khăn, bất cập cho cơ quan, đơn vị, địa phương, vì cơ quan nào có nhiều người nghỉ hưu và nghỉ tinh giản thì nhân sự còn lại quá ít, không đảm bảo đủ số lượng để phân công, bố trí công việc, trong khi cơ quan, đơn vị khác có số công chức, viên chức trẻ nhiều, không có người nghỉ hưu, không có đối tượng thuộc diện TGBC thì được duy trì số biên chế hiện hữu. Do đó, đã tạo ra sự bất cập rất lớn trong phân bổ, sử dụng biên chế giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương.

- Thứ tư: Khó thực hiện thành công chỉ tiêu tinh giản tối thiểu 10% biên chế theo quy định. Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề này là TGBC phải đảm bảo đúng đối tượng, điều kiện, nhưng khi áp dụng vào thực tế thì rất khó thực hiện và rất ít người thuộc đối tượng TGBC. Do đó, ấn định tỷ lệ tinh giản tối thiểu 10% biên chế cho các cơ quan, đơn vị, địa phương là không phù hợp, gây rất nhiều khó khăn trong thực hiện, vì có cơ quan, đơn vị không có đối tượng thuộc diện tinh giản nên không thể xây dựng kế hoạch để thực hiện. Bên cạnh đó, TGBC phải gắn với đánh giá, nhận xét cán bộ và sắp xếp tổ chức, bộ máy, nhưng theo quy định thì mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương phải xây dựng kế hoạch TGBC cho cả giai đoạn 2015 - 2021, trong khi nhận xét, đánh giá cán bộ, công chức tính theo từng năm. Vì vậy, các cơ quan, đơn vị, địa phương không thể dự kiến được số lượng tinh giản là bao nhiêu để đưa vào kế hoạch thực hiện và nếu không có đối tượng thuộc diện TGBC thì không thể xây dựng kế hoạch để thực hiện được.

- Thứ năm: Sự bất cập, thiếu đồng bộ trong quy định về đối tượng, điều kiện và phê duyệt danh sách TGBC. Theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 6 có đối tượng tinh giản là “chưa đạt trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ quy định đối với vị trí việc làm đang đảm nhiệm, nhưng không có vị trí việc làm khác phù hợp để bố trí và không thể bố trí đào tạo lại để chuẩn hóa về chuyên môn”, tuy nhiên khi thẩm định, phê duyệt danh sách TGBC, Bộ Nội vụ lại xét đối tượng này kèm theo điều kiện về kết quả đánh giá, phân loại trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn quy định tại Điểm đ, e, Khoản 1, Điều 6 trong khi đây là 2 đối tượng riêng. Từ đó, cũng ảnh hưởng đến kết quả thực hiện TGBC của các cơ quan, đơn vị, địa phương.

- Thứ sáu: Chế độ, chính sách đối với những người nghỉ việc thuộc diện TGBC chưa phù hợp, còn thấp nên chưa khuyến khích, động viên những đối tượng thuộc diện TGBC tự nguyện đăng ký tham gia và tích cực hợp tác để thực hiện TGBC. CB, CC, VC đảm bảo điều kiện để nghỉ hưu trước tuổi còn dưới 2 năm công tác khi nghỉ việc theo diện TGBC sẽ không được hưởng bất kỳ chế độ, chính sách nào ngoài chế độ hưu trí là bất cập cần được xem xét, vì những đối tượng này sắp đến tuổi nghỉ hưu nên tinh thần, ý chí phấn đấu trong công việc không cao. Do đó, cần mạnh dạn và có chế độ thích hợp để giải quyết TGBC đối với đối tượng này để tuyển chọn người mới, đáp ứng tốt yêu cầu công việc vào bộ máy nhà nước, đồng thời với chế độ, chính sách thỏa đáng để hạn chế thấp nhất vấn đề tâm tư cũng như thể hiện được tính nhân văn trong quản lý, sử dụng nhân sự trong khu vực công.

Những khó khăn, bất cập và những thách thức nêu trên trong TGBC đã dẫn đến kết quả thực hiện tinh giản chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra. Từ đó, đòi hỏi cơ quan quản lý chuyên ngành cần tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh và hướng dẫn, hỗ trợ cho các cơ quan, đơn vị, địa phương trong khu vực nhà nước tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để thực hiện đạt yêu cầu về TGBC, từng bước tinh gọn bộ máy, đảm bảo chuẩn chất đội ngũ nhân sự, nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, người đứng đầu từng ngành, đơn vị, địa phương phải có trách nhiệm cao, mạnh dạn, khách quan, công tâm trong nhận xét, đánh giá cán bộ thuộc quyền quản lý, sử dụng theo thực chất để đảm bảo cơ sở pháp lý trong thực hiện TGBC tại cơ quan, đơn vị. Khi đó, TGBC mới có chuyển biến thực sự, tạo tiền đề vững chắc trong thực hiện cải cách chế độ công vụ, công chức tại tỉnh cũng như trên bình diện chung của cả nước.

Mặc dù số lượng CB, CC, VC rất đông, chi phí phục vụ hoạt động và chi trả lương cho đội ngũ này chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu chi ngân sách nhà nước của tỉnh, nhưng chất lượng hoạt động của khu vực công ở tỉnh ta chưa cao. Điều đáng suy ngẫm nhất là tình trạng cán bộ, công chức nhiều, chi phí sử dụng để “nuôi dưỡng” bộ máy cao trong khi hiệu quả quản lý không đạt yêu cầu đã trở thành “rào cản” trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh cũng như đất nước.

  • Nguyễn Thị Ngọc Giàu

  •  
    Lưu để đọc sau

    Bản in

    Phản hồi
     
    CÁC TIN KHÁC:
      Từng bước nâng cao hiệu quả (22 / 2 / 2017)
      Năng động, đổi mới để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (22 / 2 / 2017)
      Dân vận khéo “đột phá” vào cái khó (20 / 2 / 2017)
      Những chuyển biến rõ nét (20 / 2 / 2017)
      Họp mặt báo chí, văn nghệ sĩ đầu Xuân 2017 (17 / 2 / 2017)
      Đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng giới thiệu các nghị quyết của Đảng (17 / 2 / 2017)
      Năm 2017 phát triển ít nhất 4 doanh nghiệp khởi nghiệp (17 / 2 / 2017)
      Phiên họp thứ 7 Thường vụ Quốc hội bàn về cơ chế đặc thù cho TPHCM (15 / 2 / 2017)
      Phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ thu ngân sách năm 2017 (15 / 2 / 2017)
      Trí thức và Đồng khởi khởi nghiệp (15 / 2 / 2017)
      Đóng góp ý kiến 2 dự thảo luật (15 / 2 / 2017)
      Triển khai công tác, nhiệm vụ năm 2017 (15 / 2 / 2017)
      Hội nghị báo cáo viên tháng 2-2017 (15 / 2 / 2017)
      Xây dựng, phát huy hiệu quả mô hình tổ công nhân tự quản (15 / 2 / 2017)
      1.300 tân binh lên đường nhập ngũ xây dựng quân đội (13 / 2 / 2017)
      Thực hiện khá tốt trách nhiệm được phân công (13 / 2 / 2017)
      Phân bổ vốn đồng đều cho các xã nông thôn mới (13 / 2 / 2017)
      Quán triệt các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII (12 / 2 / 2017)
      Xã an toàn về an ninh trật tự (10 / 2 / 2017)
      Đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng (10 / 2 / 2017)

    Trang tiếp

     
    Tìm kiếm
    Cần kịp thời tháo gỡ những khó khăn, bất cập
    © Báo Đồng Khởi - Giấy phép số: 456/GPBC - Do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 22/10/2007
    Tổng Biên tập: Lê Ngọc Hân - Đường dây nóng: 0918820163
    Toà soạn: 171 Nguyễn Đình Chiểu, F2, TP.Bến Tre - Tỉnh Bến Tre
    Điện thoại (+84).75.822311-(+84).75.811000-(+84).75.811650 - Fax : (+84).75.826658 - email: info@baodongkhoi.com.vn